Bổ sung vitamin D ở phụ nữ mang thai và các chỉ số mang thai và sơ sinh

219 đã xem

Mối liên hệ giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D ở huyết thanh của người mẹ và các chỉ số mang thai và sơ sinh: tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp của các nghiên cứu quan sát

Nhóm tác giả: FaribaAghajafari, TharsiyaNagulesapillai, Paul Ronksley, Suzanne Tough, Maeve O’Beirne& Doreen Rabi

Tóm tắt: Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc thiếu vitamin D có liên quan đến các chỉ số bất lợi cho thai kỳ và sơ sinh. Để phản ánh tầm quan trọng của những phát hiện này, người ta tiến hành làm một bản tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp để đánh giá ảnh hưởng của lượng 25-hydroxyvitamin D (25-OHD) đối với các chỉ số thai kỳ và các biến số sinh nở. Tổng số 31 nghiên cứu quan sát được đưa vào trong bản phân tích và sự thiếu hụt vitamin D được xác định khi lượng vitamin D <75nmol/L. Mười nghiên cứu ghi nhận về đái tháo đường thai kỳ bao gồm 687 trường hợp và 3425 đối chứng và các nghiên cứu này cho thấy việc thiếu hụt vitamin D có liên quan tới 49% nguy cơ gia tăng bị đái tháo đường thai kỳ. Chín nghiên cứu ghi nhận về tiền sản giật (350 trường hợp và 2841 đối chứng) và cho thấy nguy cơ tiền sản giật tăng 79% với trường hợp thiếu hụt vitamin D. Mười nghiên cứu (n=8788) quan sát các biến sinh nở và chứng minh việc thiếu hụt vitamin D có liên quan tới 85% gia tăng nguy cơ trẻ sinh nhẹ cân hơn so với tuổi thai. Ba nghiên cứu (672 trường hợp, 3790 đối chứng) đã chứng minh phụ nữ mang thai có lượng vitamin D thấp có nguy cơ gia tăng bị viêm âm đạo do vi khuẩn. Hai nghiên cứu (395 trường hợp, 1224 đối chứng) quan sát ca sinh mổ đã không tìm thấy bất kỳ liên quan nào với việc thiếu hụt vitamin D. Tóm lại, thiếu vitamin D (<75nmol/L) trong khi mang thai có liên quan tới việc tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật, trẻ sinh nhẹ cân hơn so với tuổi thai và viêm âm đạo do vi khuẩn. Những phát hiện này nhấn mạnh mối lo ngại rằng ngay cả khi phụ nữ mang thai có lượng vitamin D nằm trong khoảng thường được xác định là gần mức tối ưu (50-75nmol/L) vẫn có nguy cơ đáng kể gặp các kết quả bất lợi.

Source: Tạp chí Y khoa của Anh 2013; 346: f1169

(http://www.bmj.com/content/346/bmj.f1169)

Có thể bạn quan tâm: ,