Cơ thể người mẹ khi mang thai sẽ thay đổi như thế nào?

958 đã xem

Quá trình mang thai, sinh nở là thiên chức thiêng liêng của người phụ nữ. Tuy nhiên, để thích nghi với việc mang trong mình một cơ thể mới và chuẩn bị cho quá trình sinh đẻ thì cơ thể người mẹ khi mang thai sẽ có những thay đổi lớn trên toàn bộ cơ quan. Những thay đổi này sẽ giúp người phụ nữ nuôi dưỡng, bảo vệ tốt nhất cho thai nhi và giúp cho quá trình sinh đẻ được thuận lợi. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những thay đổi thú vị này trong bài viết sau đây.

Cơ thể người mẹ khi mang thai sẽ thay đổi như thế nào? 1

Hầu hết các cơ quan của phụ nữ đều thay đổi để thích nghi khi mang bầu

Sự thích nghi sinh lý ở người mẹ để đáp ứng với nhu cầu trong thai kỳ. Chúng bao gồm:

  1. Nuôi dưỡng thai (tăng kích thước, cung cấp dinh dưỡng và oxy, giải phóng chất thải của thai nhi)
  2. Bảo vệ thai (khỏi bị đói, khỏi tiếp xúc thuốc, chất độc)
  3. Chuẩn bị tử cung cho quá trình chuyển dạ
  4. Bảo vệ người mẹ khỏi bị tổn thương tim mạch có thể xảy ra khi sinh.

Tuổi mẹ, dân tộc, yếu tố di truyền, bệnh đi kèm của mẹ ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với thai kỳ của người mẹ.

Tất cả các hệ cơ quan của người mẹ phải thích ứng với thai kỳ. Chất lượng, mức độ, và thời gian của sự thích ứng khác nhau giữa các cá nhân cũng như các cơ quan khác nhau.

Hệ hô hấp

Hệ hô hấp 1

 Khó thở là hiện tượng thường gặp của phụ nữ khi mang thai

  • Sự thích ứng của đường hô hấp trong thai kỳ để cung cấp oxygen cho mẹ và thai, và đẻ vận chuyển CO2 từ bào thai cho người mẹ.
  • Nhiều phụ nữ mang thai có cảm giác khó thở nhưng lại không phát hiện được bệnh lý nào. Lý do của điều này chưa rõ ràng.
  • Các cơ chế của sự thay đổi hô hấp trong thai kỳ. Xương sườn phát triển ra hai bên và cơ hoành nâng lên khoảng 4 cm.
  • Trong thời gian mang thai, thể tích khí tăng 200 ml (40%), kết quả dung tích sống tăng 100 – 200 ml (5%) và thể tích cặn giảm 200 ml (20%), do đó giảm thể tích không khí trong phổi vào cuối kỳ thở ra. Nhịp thở không thay đổi. Kết quả cuối cùng là tăng thông khí phút và giảm pCO2 động mạch. pO2 động mạch hầu như không thay đổi. Nồng độ bicarrbonat giảm cho phép độ pH vẫn không thay đổi. Do đó, khi mang thai trong cơ thể có tình trạng nhiễm kiềm hô hấp còn bù.
pH pO2 (mmHg) pCO2 (mmHg)
Phụ nữ không mang thai 7.40 93-100 35-40
Phụ nữ mang thai 7.40 100-105 28-30

Hệ tim mạch

  • Progesterone gây giảm kháng lực mạch máu trong đầu thai kỳ, dẫn đến giảm huyết áp. Đáp ứng lại, cung lượng tim tăng khoảng 30% – 50%.
  • Kích hoạt hệ thống renin-angiotensin làm tăng angiotensin II, gây tăng tái hấp thu Natri và nước (làm thể tích máu tăng 40%) và co các mạch máu ngoại vi.

Hệ tiêu hóa

Hệ tiêu hóa 1

 Phụ nữ mang thai dễ bị đái tháo đường do tăng lượng đường và tăng tính kháng insulin

  • Buồn nôn (“nghén”) xảy ra ở trên 70% trường hợp có thai. Triệu chứng thường hết khi thai khoảng 17 tuần.
  • Progesterone gây giãn cơ trơn đường tiêu hóa, kết quả là sự làm rỗng dạ dày bị chậm và tăng hiện tượng trào ngược.
  • Thai kỳ có liên quan đến sỏi mật (sỏi túi mật). Hầu hết sỏi túi mật trong thai kỳ là sỏi cholesterol.
  • Mang thai là một tình trạng dễ gây đái tháo đường với sự kháng insulin và làm giảm hấp thu glucose ngoại vi (do tăng các hormone kháng insulin của nhau thai, chủ yếu là hCS). Các cơ chê snafy để đảm bảo có thể cung cấp glucose liên tục cho thai nhi.

Hệ niệu – sinh dục

  • Độ lọc cầu thận tăng 50% vào đầu thai kỳ, dẫn đến tăng thanh thải creatinine và giảm 25% nồng độ creatinine và Urea huyết thanh.
  • Tăng GFR làm tăng lượng Natri được lọc qua cầu thận. Nồng độ aldosterone tăng từ hai đến ba lần để hấp thu lại Natri.
  • Tăng GFR cũng làm giảm quá trình tái hấp thu Glucose. Do đó, có khoảng 15% hụ nữ mang thai bình thường có đường trong nước tiểu.
  • Thận và niệu quản ứ nước nhẹ là triệu chứng thường gặp trên siêu âm, do tăng nồng độ progesterone và một phần từ tử cung (mang thai) chèn ép vào.
  • 5% phụ nữ mang thai có vi khuẩn trong nước tiểu. Mang thai không làm tăng tỷ lệ nhiễm trùng tiểu không triệu chứng, nhưng các trường hợp này có nhiều khả năng tiến triển thành viêm thận – bể thân (20%-30%)

Hệ huyết học

Hệ huyết học 1

 Phụ nữ mang thai thường bị thiếu máu nên cần bổ sung thêm sắt, acid folic….

  • Tăng thể tích nội mạch gây thiếu máu do pha loãng. Nồng độ erythropoietin tăng dẫn đến tổng số lượng hồng cầu tăng, nhưng không bao giờ bù đắp được tình trạng thiếu máu (sinh lý).
  • Số lượng bạch cầu có thể tăng nhẹ khi mang thai, nhưng tỷ lệ bạch cầu (%) thường không thay đổi khi xét nghiệm.
  • Giảm tiểu cầu nhẹ (<150,000 tiểu cầu/ml) gặp trong 10% phụ nữ mang thai. Đây có lẽ là do pha loãng và hiếu khi có biểu hiện lâm sàng.
  • Khi mang thai có tình trạng tăng đông máu do tăng các yếu tố II (fibrinogen), VII, IX, và X. Những thay đổi này bảo vệ người mẹ khỏi bị mất máu quá nhiều khi sinh, nhưng cũng làm tăng nguy cơ tạo huyết khối.

Hệ nội tiết

  • Estrogen làm gan tăng sản xuất TBG (globulin gắn kết hormone tuyến giáp), dẫn đến sự gia tăng nồng độ hormone giáp (toàn phần). Tuy nhiên, nồng độ TSH, triiodothyronin (T3) tự do và thyroxin tự do (T4) không thay đổi.
  • Nồng độ Calci trong huyết thanh giảm trong thai kỳ dẫn đến tăng hormone tuyến cận giáp, điều này làm tăng chuyển đổi Cholecalciferon (Vitamin D3) thành dạng hoạt động, 1,25-dihydroxycholecalciferol (DHCC), bởi 1alpha-hydroxylase trong nhau thai. Điều này dẫn đến tăng hấp thu Calci từ đường ruột.
  • Nồng độ Aldosterone và cortisol tăng lên trong thai kỳ.
  • Prolactin tăng trong thai kỳ, nhưng chức năng hiện vẫn chưa rõ. Có lẽ hormone này đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tiết sữa sau sinh.

Hệ miễn dịch

Quá trình đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào bị giảm trong suốt thai kỳ để tránh sự tấn công của tế bào miễn dịch với thai nhi (là yếu tố lạ trong cơ thể người mẹ). Do đó, thai phụ tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng như Cúm, Lao…

Hệ cơ xương và hệ da

  • Sự thay đổi tư thế (vùng thắt lưng cong ra trước quá mức) và đau vùng hông lưng thường gặp trong thai kỳ.
  • Tăng estrogen và MSH (melanocyte-stimulating hormone) gây tăng sắc tố da ở rốn, đầu vú, đường giữa bụng (đường đen), và khuôn mặt (nam da mặt).
  • Tăng estrogen cũng có thể dẫn đến những thay đổi về da như sao mạch và lòng bàn tay son.

Sổ tay sản phụ khoa Hoa Kỳ

Có thể bạn quan tâm:

5 Bình luận

  1. Xin cảm ơn bác sĩ ạ!

  2. Xin chào bác sĩ
    E đi siêu âm để thai dc 6 tuần, và ghi bên trong có yolksac, GS#14mm , và chưa có tim thai, 6 tuần chưa có tim thai thì có nguy hiểm ko à? em rất lo.

    • procarevn bình luận:

      Chào bạn Hoa,
      Thông thường bạn có thể thấy tim thai ở tuần 6-8, có trường hợp thấy muộn hơn phụ thuộc vào người đọc siêu âm và tùy thuộc vào máy siêu âm. Kết quả siêu âm của bạn ở tuần thứ 6 như vậy là bình thường, có Yolksac nghĩa là có phát triển phôi, bạn chịu khó chờ môt vài hôm nữa đi khám lại để xem có tim thai và thai có phát triển bình thường không bạn nhé!
      Chúc bạn một thai kỳ mạnh khỏe!

  3. Xin chào bác sĩ
    mang thai dc 6 tuần e cảm thấy bụng e hay bị đau, nhưng không đau nhiu chút là hết. như vây có sao ko

    • procarevn bình luận:

      Chào bạn Ngọc Hoa,
      Ở những tuần đầu tiên của thai kỳ, nhiều mẹ bầu gặp phải hiện tượng đau lâm râm vùng bụng dưới là do phôi thai đang tìm cách làm tổ trong buồng tử cung gây lên. Đó là dấu hiệu bình thường không cần lo lắng. Khi thai lớn hơn bạn sẽ thấy đau nhiều hơn một chút do lúc này các dây chằng vùng vụng phải dãn ra, cơ căng lên để nâng đỡ thai nhi ngày một lớn. Cơn đau này gặp nhiều hơn khi bạn thay đổi tư thế hay ho mạnh….
      Tuy nhiên, nếu bạn thấy đau dữ dội kèm sốt, mệt mỏi, ra máu, … thì cần đến gặp bác sĩ ngay để được thăm khám và điều trị vì đó có thể là dấu hiệu nguy hiểm tới thai kỳ.
      Chúc bạn một thai kỳ mạnh khỏe!